Thứ Bảy, 5 tháng 11, 2011
Thứ Sáu, 28 tháng 10, 2011
Hóa trang mặt trong nghệ thuật tuồng
Hóa trang mặt trong diễn tuồng là một nghệ thuật thể hiện tính cách nhân vật của vở diễn... Vì vậy chỉ cần nhìn diễn viên bước ra khỏi cánh gà với bộ mặt hóa trang cũng như trang phục thì dường như khán giả đều biết đó là nhân nhân vật có tính cách như thế nào.
<Đôi mắt của quan huyện thể hiện sự gian xảo và tinh quái nên được diễn viên trau chuốt cẩn thận.
Màu sắc dùng để hóa trang trên mặt phổ biến là trắng, đỏ, xanh và màu đen. Mặt trắng (diện mạo đẹp đẽ, tính cách trầm tĩnh), mặt đỏ (người trí dũng, chững chạc), mặt rằn (diện mạo xấu xí, tính cách nóng nảy), mặt tròng xéo đen (tướng phản, hai bên thái dương có vết đỏ là người nóng nảy, nếu tròng xéo đen nền đỏ thắm hay xanh là người vũ dũng), mặt mốc (xu nịnh), mặt lưỡi cày (người đoản hậu, nhát gan)...
Thứ Năm, 27 tháng 10, 2011
Nhà hát cổ Duyệt Thị Đường
<Sân khấu chính của nhà hát, nơi có ghế Rồng dành cho Vua xem hát.
Theo như các tài liệu và thư tịch cổ hiện còn lại cho biết, Duyệt Thị Đường là một trong những nhà hát cổ nhất của Việt Nam .Đây là nhà hát của hoàng cung, nơi dành cho vua và những người trong hoàng tộc thưởng thức các loại hình nghệ thuật truyền thống, đặc biệt là nghệ thuật tuồng cổ.
Nhà hát Duyệt Thị Đường được xây dựng vào năm Minh Mạng thứ 7 (1826). Toà nhà nằm bên trong Tử Cấm Thành với tổng diện tích là 11.740 m2, riêng diện tích của nhà hát là 1.182 m2. Bên hữu là Ngự y viện, nơi để sao chế thuốc chữa bệnh cho vua và hoàng gia. Bên tả là sở Thượng Thiện, nơi dùng để chế biến các món ăn phục vụ nhà vua. Tất cả đều được ngăn với nhà hát bằng một bức tường. Toàn bộ khuôn viên nhà hát trước đây được dùng để trồng các loại cây thuốcNam quý hiếm.
Nhạc Cung Đình Huế
Âm nhạc cung đình Việt Nam-Nhã nhạc (triều Nguyễn) đã được UNESCO công nhận là một di sản văn hóa phi vật thể của thế giới. Vấn đề này đã được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đặc biệt quan tâm. Để nhận thức rõ hơn về giá trị của Nhã nhạc, Tạp chí Di sản văn hóa xin trích đăng một phần bản tham luận của GS.TS Trần Văn Khê.
< Đội nhã nhạc triều Nguyễn
Nhạc Cung đình là một bộ môn âm nhạc truyền thống đặc sắc của Việt Nam, đặc biệt Nhã Nhạc Huế đã có giá trị rất cao về phương diện lich sủ lẫn nghệ thuật. Tuy được sử dụng ở chốn cung đình, nhưng việc sáng tạo và biểu diễn hầu hết đều do nhữn nhạc sĩ, nghệ sĩ xuất thân từ trong dân gian, nhờ có tay nghề cao mà được sung vào cung để phục vụ cho triều đình.
Thứ Ba, 18 tháng 10, 2011
NGHỆ THUẬT “TRỒNG NGƯỜI”
Trường chúng ta – Nhạc viện TP. HCM là một trong hai đơn vị - hai cơ sở lớn của cả nước làm công tác đào tạo các chuyên ngành về âm nhạc: biểu diễn, sáng tác, lý luận, chỉ huy…
Chúng ta – những thầy cô giống như những người trồng cây. Trước hết, chúng ta phải biết chọn hạt giống tốt để ươm mầm. Khi hạt giống đã nảy mầm, chúng ta lại phải biết cách chăm sóc, bảo vệ, trông nom, nuôi dưỡng để mầm non đó phát triển, lớn lên thành cây xanh tươi tốt, nở hoa thơm, đươm trái ngọt có ích cho đời. Công tác đào tạo trong lĩnh vực nghệ thuật nói chung, âm nhạc nói riêng là một công việc rất khó khăn, không đơn giản chút nào. Nó đòi hỏi những thầy cô ngoài kiến thức chuyên môn, kinh nghiệm giảng dạy trong thực tiễn còn phải có một tấm lòng nhân ái, kiên nhẫn, giàu tình yêu thương, tận tâm tận lòng để phát triển những tài năng còn đang tiềm ẩn bên trong mỗi học trò của mình. Đồng thời người học trò ngoài năng khiếu, tố chất bẩm sinh về âm nhạc còn phải có những đức tính: siêng năng trong học tập, lòng đam mê nghề mãnh liệt, trau dồi không mệt mỏi chuyên ngành mà mình theo học… Đó là sự kết hợp, gắn bó chặt chẽ, mang tính tương đồng cần thiết trong mối quan hệ của người thầy và người trò, mới gặt hái được những thành quả cao.
Chủ Nhật, 16 tháng 10, 2011
Áo dài Việt Nam trên chặng đường dài
Không ai biết rõ chiếc áo dài nguyên thủy ra đời từ lúc nào và hình dáng ra sao vì không có tài liệu ghi nhận và chưa có nhiều người nghiên cứu.
Y phục xa xưa nhất của người Việt, theo những hình khắc trên mặt chiếc trống đồng Ngọc Lữ cách nay khoảng vài nghìn năm cho thấy hình phụ nữ mặc trang phục với hai tà áo xẻ.
Sử gia Đào Duy Anh viết, "Theo sách Sử ký chép thì người Văn Lang xưa, tức là tổ tiên ta, mặc áo dài về bên tả (hình thức tả nhiệm). Sử lại chép rằng ở thế kỷ thứ nhất, Nhâm Diên dạy cho dân quận Cửu Chân dùng kiểu quần áo theo người Tàu.
Thứ Sáu, 14 tháng 10, 2011
Thứ Năm, 13 tháng 10, 2011
Rối nước - nghệ thuật của đồng quê
“Thưa bà con Tôi ra đây có phải xưng danh không nhỉ?”, cùng với tiếng trống, tiếng nhạc rộn ràng, chú Tễu từ trong cánh gà lướt trên mặt nước với màn chào hỏi. Một buổi biểu diễn múa rối nước bắt đầu.
Các tích trò mà các nghệ nhân biểu diễn rối nước dàn dựng gắn liền với công việc đồng áng như cày, bừa, cấy lúa, chăn trâu, chăn vịt, đánh bắt tôm cá hoặc các trò chơi dân gian như đánh đu, múa hát mừng được mùa... và phong cảnh nông thôn.Sân khấu biểu diễn là mặt ao hồ tự nhiên hoặc nhân tạo được gọi là Thủy đình. Người biểu diễn lội dưới nước, dùng cây sào và dây điều khiển các con rối sau những tấm mành tạo nên không gian vừa huyền bí, vừa gần gũi với người xem xung quanh.
Các tích trò mà các nghệ nhân biểu diễn rối nước dàn dựng gắn liền với công việc đồng áng như cày, bừa, cấy lúa, chăn trâu, chăn vịt, đánh bắt tôm cá hoặc các trò chơi dân gian như đánh đu, múa hát mừng được mùa... và phong cảnh nông thôn.Sân khấu biểu diễn là mặt ao hồ tự nhiên hoặc nhân tạo được gọi là Thủy đình. Người biểu diễn lội dưới nước, dùng cây sào và dây điều khiển các con rối sau những tấm mành tạo nên không gian vừa huyền bí, vừa gần gũi với người xem xung quanh.
Chủ Nhật, 9 tháng 10, 2011
Tục kéo vợ ở Mồ Sì San (huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu)
Theo các già bản ở Mồ Sì San (huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu), ngày xưa theo phong tục người Dao Đỏ thách cưới rất nặng. Và tục kéo vợ ra đời như một kiểu lách luật thách cưới để những chàng trai nghèo có thể đến với người con gái mình yêu và xây dựng gia đình.
Theo các già bản ở Mồ Sì San (huyện Phong Thổ - tỉnh Lai Châu) kể lại rằng: ngày xưa, theo phong tục của người Dao Đỏ, nhà gái thách cưới gồm 70 đồng bạc trắng, 2 con lợn, 20 vò rượu và toàn bộ phí tổn tổ chức đám cưới nhà hai họ. Phong tục này đã ngăn cản những chàng trai nghèo có được hạnh phúc cho mình. Và tục kéo vợ ra đời chẳng ai biết từ khi nào, đó là một hình thức “lách luật” thách cưới để những chàng trai nghèo có thể đến được với hạnh phúc và xây dựng gia đình.
Theo các già bản ở Mồ Sì San (huyện Phong Thổ - tỉnh Lai Châu) kể lại rằng: ngày xưa, theo phong tục của người Dao Đỏ, nhà gái thách cưới gồm 70 đồng bạc trắng, 2 con lợn, 20 vò rượu và toàn bộ phí tổn tổ chức đám cưới nhà hai họ. Phong tục này đã ngăn cản những chàng trai nghèo có được hạnh phúc cho mình. Và tục kéo vợ ra đời chẳng ai biết từ khi nào, đó là một hình thức “lách luật” thách cưới để những chàng trai nghèo có thể đến được với hạnh phúc và xây dựng gia đình.
Điêu khắc cổ Champa
Một thời kỳ vàng son của đế chế VIJAYA- Vương quốc Champa kéo dài gần 500 năm từ thế kỷ XI đến nửa sau thế kỷ XV đã để lại vùng đất Bình Định ngày nay những di sản điêu khắc vô giá.
<Thần Mahisamardini - niên đại TK XII.
Trong số 150 tác phẩm điêu khắc cổ Champa hiện lưu giữ tại Bảo tàng Tổng hợp Bình Định, phần lớn được tìm thấy ở gò Tháp Mẫm (xã Nhơn Thành, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định). Các nghệ sĩ điêu khắc Champa bằng bàn tay tài hoa, điêu luyện đã biến những khối đá và đất nung vô hồn thành những hình tượng thần, người, thú phù hợp với tâm thức của người Chăm bản địa. Các tác phẩm nói chung thấm đẫm ảnh hưởng phong cách văn hóa Ấn Độ giáo với hệ thống tam vị nhất thể (Brahma - Vishnu - Shiva) cùng vô vàn thần linh, tu sĩ, vũ nữ…
<Thần Mahisamardini - niên đại TK XII.
Trong số 150 tác phẩm điêu khắc cổ Champa hiện lưu giữ tại Bảo tàng Tổng hợp Bình Định, phần lớn được tìm thấy ở gò Tháp Mẫm (xã Nhơn Thành, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định). Các nghệ sĩ điêu khắc Champa bằng bàn tay tài hoa, điêu luyện đã biến những khối đá và đất nung vô hồn thành những hình tượng thần, người, thú phù hợp với tâm thức của người Chăm bản địa. Các tác phẩm nói chung thấm đẫm ảnh hưởng phong cách văn hóa Ấn Độ giáo với hệ thống tam vị nhất thể (Brahma - Vishnu - Shiva) cùng vô vàn thần linh, tu sĩ, vũ nữ…
Thứ Sáu, 7 tháng 10, 2011
Thanh âm đại ngàn
Ai đã một lần lên Tây Nguyên, nghe tiếng cồng chiêng âm vang đầy huyền bí bên ánh lửa bập bùng giữa đại ngàn mới thấy được hết sức sống mãnh liệt và kì diệu của con người nơi đây. Chẳng thế mà có người đã ví, cồng chiêng là “linh hồn” của người Tây Nguyên.
Vậy là đã gần 6 năm kể từ ngày Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên được UNESCO công nhận là Kiệt tác Văn hóa Phi vật thể và Truyền khẩu của nhân loại (25/11/2005). Sáu năm là quãng thời gian chưa phải đã là dài, nhưng cũng không phải là quá ngắn, để chúng ta có được một cái nhìn đầy đủ và thực tế hơn về di sản đặc biệt này, nhất là trong bối cảnh cuộc sống ở Tây Nguyên đang có nhiều thay đổi lớn như hiện nay.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
